Chùa Bái Đính
08.12.2008 14:12
Tại thôn Sinh Dược, xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, cách Cố đô Hoa Lư về phía Tây Bắc khoảng 4 km có một trái núi lớn, đứng độc lập, cao nhất vùng, khoảng 200 mét có dáng vòng cung hai bên khép lại tựa tay ngai, gọi là thế ngai vàng. Đó là núi Bái Đính, còn giữ được vẻ nguyên sơ của núi rừng hoang dã, tự nhiên. Cây cối lớn nhỏ mọc xanh um trên núi . Núi luôn bao phủ một màu xanh tươi.
Điều đặc biệt của núi Bái Đính là ở phía Tây Nam núi có một động đẹp dài khoảng 25 mét, rộng 15 mét, cao chỉ trên 2 mét, cách đây khoảng 1000 năm khi Thiền sư Nguyễn Minh Không đi tìm cây thuốc để chữa bệnh cứu người, qua đây đã phát hiện ra động và biến động làm chùa thờ Phật, gọi là hang Sáng, động thờ Phật.
Nguyễn Minh Không (1065 – 1141), ở xã Gia Thắng, Gia Tiến, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình ngày nay là một Thiền sư nổi tiếng, một danh y thiên tài đã chữa bệnh cho Vua Lý Thần Tông (1128 – 1138) khỏi bệnh, được phong làm Quốc sư. Ông còn là ông tổ của nghề đúc đồng Việt Nam.
Như thế chùa Bái Đính ở trên núi Bái Đính do Thiền sư Nguyễn Minh Không lập cách ngày nay gần 1000 năm. “ Ngôi chùa” đó rất linh thiêng. Các Tăng ni và Phật tử trong cả nước thường đến đây lễ Phật.
Từ chùa Bái Đính trên núi Bái Đính thiêng liêng đó, hiện nay nằm gần chân núi Bái Đính lại có thêm một khu chùa Bái Đính mới đang được xây dựng hoàn chỉnh từ năm 2004 đến nay. Khu chùa mới đó cũng lấy tên là chùa Bái Đính. Giữa cũ và mới đều bổ trợ cho nhau, ở đây có sự tiếp nối giữa xưa và nay, thiên nhiên và con người cùng tạo dựng lên chùa Bái Đính.
Kiến trúc của chùa Bái Đính mới là từ thấp lên cao, 5 cấp theo đường chính đạo: đầu tiên là Tam quan nội, đến Tháp chuông, điện thờ Quan thế âm Bồ Tát, điện thờ Pháp chủ và trên cùng là toà Tam thế. Năm cấp này cao dần lên, biểu tượng cho ngọn núi thiêng Tu Di. Nếu tính theo độ dài từ Tam quan nội đến toà Tam thế thì khu chùa Bái Đính hiện nay xây dựng ở giai đoạn I có chiều dài 812 mét. Nếu sau này xây dựng hoàn chỉnh thì khu chùa Bái Đính mới sẽ có tổng diện tích 700 ha. Đó cũng là diện tích khu chùa lớn nhất Việt Nam.
Chùa Bái Đính mới quay hướng Bắc, ghé Đông, dựng trên dãy đồi cao gần chùa Bái Đính cổ. Cách chân đồi không xa là sông Hoàng Long uốn lượn như con rồng vàng nổi lên đón Đinh Bộ Lĩnh thuở hàn vi, mang một vẻ đẹp huyền hoặc. Nếu tính độ cao ở chỗ thấp nhất của chùa Bái Đính là Tam quan nội, thì mặt đất đã cao so với mặt nước biển là 9,25 mét.
Mô hình Khu Văn hóa tâm linh núi chùa Bái Đính
Hiện nay trong giai đoạn I mới sử dụng có 50 ha, khu chùa đã hoàn thành 5 công trình chính như sau:
1. TAM QUAN NỘI:
Tam quan nội xây dựng toàn bằng gỗ tứ thiết, kiến trúc theo kiểu lộng tàn, chồng giường, tiền bẩy, hậu bẩy, xà nách, cao tới đỉnh 16,5 m, có chiều dài 32 m, rộng 13,5 m. Điều độc đáo là có 4 cột cái bằng gỗ tứ thiết, mỗi cột cao 13,85 m, đường kính 0,87 m, nặng khoảng 10 tấn. Tam quan có 3 tầng mái uốn cong lợp bằng ngói men ống Bát Tràng màu nâu sẫm. Các góc của mái đều có đầu đao xây cong lên như hình đuôi chim Phượng. Trong Tam quan nội sẽ đặt 10 pho tượng Hộ pháp bằng đồng, trong đó có 2 tượng Hộ pháp, mỗi tượng cao 5,5 m, nặng 12 tấn. Đây là một Tam quan lớn, đồ sộ, chưa từng thấy ở đâu trên đất nước ta.
2. THÁP CHUÔNG:
Tháp chuông được xây dựng bằng bê tông cốt thép giả gỗ, kiến trúc theo kiểu tháp chuông cổ, kiểu chồng diêm hình bát giác (8 cạnh), có 3 tầng, với 3 tầng mái cong, xà chồng cổ ngỗng. Tháp chuông cao gần 22 m, đường kính trong tháp là 17 m, tính phủ bì đến chân đế đường kính là 49 m.
Trong tháp chuông treo một quả chuông đồng nặng 36 tấn. Chày kình đánh chuông bằng gỗ tứ thiết dài 4,2 m, đường kính 0,3 m, nặng 500 kg. Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam đã cấp bằng “Xác nhận kỷ lục”: “Đại hội đồng chuông lớn nhất Việt Nam” (phá kỷ lục Việt Nam), ngày 12 tháng 12 năm 2007.
3. ĐIỆN QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT:
Điện được xây dựng toàn bằng gỗ tứ thiết, 100% kiến trúc bằng gỗ, cao 14,8 m, dài 40,4 m, rộng 16,8 m, gồm 7 gian. Điện cũng kiến trúc theo kiểu lộng tàn, chồng giường, tiền bẩy, hậu bẩy, xà nách, cột chống, góc kẻ chuyền, có hai tầng mái uốn cong ở bốn phía.
Điều độc đáo của điện là ở gian giữa, sẽ đặt tượng Quan Thế Âm Bồ Tát nghìn mắt, nghìn tay (thiên thủ, thiên nhỡn), đúc bằng đồng cao 9,57 m, nặng khoảng 80 tấn (cả bệ). Đây cũng là một pho tượng Quan Thế Âm Bồ Tát bằng đồng lớn nhất ở Việt Nam.
4. ĐIỆN THỜ PHÁP CHỦ:
Điện xây dựng toàn bằng bê tông cốt thép giả gỗ rất đồ sộ, hoành tráng, cao đến nóc gần 30 m, dài 44,7 m, rộng 43,3 m, có diện tích 1.945 m2, gồm 2 tầng mái cong, có 5 gian, gian giữa rất rộng, dài đến 13,5 m. Tường sau, hai hồi và phía trước hai gian hồi, phía ngoài tường xây gạch không trát, phía trong xây các ô nhỏ, bên trong đặt 1.284 pho tượng Thích Ca Mầu Ni nhỏ bằng đồng. Điều đặc biệt ở điện thờ Pháp chủ là ở gian giữa, trên bệ cao 1,5 m ốp đá thước, đặt một pho tượng lớn bằng đồng nguyên khối, cao 10 m, nặng 100 tấn. Nhìn pho tượng đồng lớn, đồ sộ, sẽ sửng sốt, bàng hoàng, thán phục trước tài nghệ của các nghệ nhân đúc đồng đã làm nên tuyệt tác vĩ đại này. Pho tượng này đã được Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam cấp bằng “Xác nhận kỷ lục”: “Pho tượng Phật Thích Ca bằng đồng cao và nặng nhất Việt Nam”, ngày 04 tháng 5 năm 2006.
Điều hấp dẫn nữa là ở gian giữa điện còn đặt một sập thờ, có chiều dài 8,55 m, rộng 4,52 m, cao 1,27 m. kích thước của sập đều vào các cung Nghênh Phúc, Tài lộc. Như thế diện tích của mặt sập rộng 39 m2, tương đương với diện tích của một ngôi nhà ngói cổ 4 gian. Mặt sập dày 0,1 m. Để đỡ nổi mặt sập rộng, dày và nặng như thế phải bảo đảm chắc khoẻ và kết cấu nên sập phải có 8 chân vuông 0,45 m (4 chân ở 4 góc và 4 chân ở 2 chiều dài). Các chân đều đục chạm rồng kênh bong, uốn lượn. Sập đục tứ diện (bốn mặt), nhìn hướng nào, góc nào, trên nhìn xuống, dưới nhìn lên, đều long lanh, huyền diệu. Chính giữa sập đục chạm hình tượng toà sen và bánh xe chuyển pháp luân. Phần yếm ở ba mặt: mặt tiền và hai hồi được đục chạm hai lớp, tạo cảm giác trùng điệp. Bốn mặt yếm được đục chạm toàn bộ hình rồng mây cách điệu. Phần cổ sập cao trên 0,4 m, được chia nhiều ô ngang, có đố dọc lệch nhau, trông xa như hình một chiếc áo cà sa khổng lồ trang trí hàng trăm con rồng vàng son rực rỡ. Phần diềm của mặt sập và hai tai hai bên được coi là phụ hơn, so với chân, yếm và cổ, nhưng cũng được đục chạm hết sức cầu kỳ, với hàng nghìn lá đề và cánh sen cách điệu. Đường nét đục chạm ở sập rất tỷ mỷ, có chỗ chỉ 3 mm nhưng đều tăm tắp, uốn lượn nhịp nhàng. Có thể nói, từ kỹ thuật đục chạm đến mỹ thuật của sập đã được làm theo một quy trình rất nghiêm ngặt và công phu, toát lên được vẻ đẹp truyền thống vừa thâm trầm về ý tưởng, vừa tinh xảo về đường nét, lung linh, đẹp đẽ, rực rỡ. Nó là một tác phẩm gỗ mỹ nghệ cao cấp bậc nhất, rất đặc biệt, uy nghi, tráng lệ nhất từ xưa cho đến nay. Để làm chiếc sập này đã phải sử dụng đến trên 10 khối gỗ vàng tâm thành khí. Đây là một sập thờ bằng gỗ to lớn nhất, được chạm khắc tinh vi và đẹp đẽ nhất ở Việt Nam.
5. TOÀ TAM THẾ:
Toà Tam Thế cao nhất nếu so với mặt nước biển, đứng ở hiên là 80 m. Đây là một toà cao, rộng, đồ sộ nhất ở khu chùa Bái Đính. Chưa có một kiểu kiến trúc chùa nào trên đất nước ta đẹp đẽ, nguy nga, hoành tráng như ở đây. Nó kiêu hãnh nằm trên đồi cao nhất vùng, cao tới nóc 34 m, dài 59,1 m, rộng hơn 40 m, diện tích trong nhà 2.364 m2. Toà Tam Thế cũng xây dựng bằng bê tông cốt thép giả gỗ, có 3 tầng mái uốn cong, gồm 12 mái ở bốn phía. Mái được lợp bằng ngói men ống Bát Tràng màu nâu sẫm. Các góc của mái đều có mái đao cong lên như hình đuôi chim Phượng làm cho mái uốn lượn, uyển chuyển, hài hoà như sóng nước thuỷ triều, như con thuyền trôi trên nước, như hai cánh chim đang dang rộng để bay lên. Đường nét này đã thấy khắc trên mặt trống đồng Đông Sơn, đó cũng là nét của vuông tròn, của trời và đất, biểu tượng cho âm dương hoà hợp, nói lên chí hướng và tâm hồn người Việt Nam, thể hiện triết lý nhân sinh phương Đông sâu sắc.
Toà Tam Thế có 7 gian. Toà Tam Thế cũng giống như điện thờ Pháp Chủ,, tường sau, hai hồi và tường trước của bốn gian gần hai hồi, phía ngoài tường xây gạch không trát, phía trong xây 1.808 ô nhỏ cao 0,59 m, rộng 0,3 m, sâu 0,3 m, trong đó đặt 1.808 tượng Phật nhỏ bằng đồng.
Trong toà Tam Thế đặt 3 pho tượng Tam Thế bằng đồng nguyên khối, mỗi tượng cao 7,2 m, nặng 50 tấn trên bệ cao 1,5 m, ốp đá thước chạm khắc hoa văn trông rất bề thế. Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam đã cấp bằng “Xác nhận kỷ lục”: “Ngôi chùa có bộ tượng Tam Thế bằng đồng lớn nhất Việt Nam”, ngày 12 tháng 12 năm 2007.
Đằng sau 3 pho tượng Tam Thế đều có 3 phù điêu hình lá đề to lớn bằng đồng (thúc đồng) gồm nhiều mảnh ghép lại, có gắn hàng trăm pho tượng Phật nhỏ đúc bằng đồng có kích cỡ khác nhau.
Trong toà Tam Thế cũng có những bức hoành phi, cửa võng là bằng gỗ vàng tâm, riêng câu đối làm bằng đồng (thúc đồng) đều có kích thước rất lớn chưa từng thấy ở đâu. Các đồ thờ làm bằng đồng, đôi hạc chầu cũng bằng đồng, đều cao lớn mới tương xứng với toà nhà cao rộng này.
Ba gian giữa trong toà Tam Thế sẽ có 3 bức hoành phi và ba cửa võng đều làm bằng gỗ vàng tâm, sơn son thếp bạc phủ hoàn kim. Bức hoành phi ở gian giữa dài 8,8 m, rộng 3,2 m, dày 0,06 m, dùng hết gần 3 khối gỗ thành khí. Cửa võng có chiều ngang 9,46 m, chiều dọc theo cột 9,3 m, dày 0,12 m, nặng khoảng trên 6 tấn. Các cửa võng ở đây làm nền cho Phật điện như loé lên những điểm sáng của ánh vàng để hướng con người vào cõi Phật. Đây được coi là những tác phẩm nghệ thuật có giá trị cao. Hoành phi và cửa võng cũng to lớn nhất Việt Nam.
Trong toà Tam Thế cũng đặt ba sập thờ bằng gỗ, mỗi sập dài 4,97 m, rộng 2,35 m, cao 1,27 m, theo kiểu chân quỳ dạ cá, chạm khắc giống như sập ở điện thờ Pháp Chủ.
Ngoài ra, khu chùa Bái Đính đang xây dựng hành lang La Hán ở hai bên Đông, Tây, gồm 117 gian ở mỗi bên, tổng số hai bên là 234 gian. Trong các gian hành lang La Hán sẽ đặt 500 tượng La Hán bằng đá nguyên khối. 500 tượng La Hán đá đã tạc xong, mỗi tượng cao 2,5 m. 500 tượng La Hán này không có tượng nào giống tượng nào, mỗi tượng có dáng hình, phong độ, thần thái, tâm trạng khác nhau, nhưng đều có nét chung là sự hoà trộn giữa nỗi đau nhân thế với cái chí khí bất diệt, cao cả của nhà truyền đạo.
Khu chùa Bái Đính còn có Giếng Ngọc. Từ toà Tam Thế đi xuống phía Nam 800 m, đến gần dưới chân núi Bái Đính là giếng Ngọc.
Giếng Ngọc mới được xây dựng lại ở chỗ giếng Ngọc nhỏ đã có cách đây gần 1000 năm. Giếng Ngọc của chùa Bái Đính cũ nằm gần chân núi Bái Đính mà cách đây gần 1000 năm Thiền sư Nguyễn Minh Không đã lấy nước để sắc thuốc chữa bệnh cho dân và chữa bệnh cho Thái tử Dương Hoán.
Tương truyền, đây là giếng nước do Thiền sư Nguyễn Minh Không được thần linh báo mộng ban cho chùa ở chân núi nguồn nước quý.
Giếng xây lại hình mặt nguyệt rất rộng, có đường kính gần 30 m, độ sâu của nước là 6 m. Miệng giếng xây lan can đá. Khu đất xung quanh giếng hình vuông, có diện tích 6.000 m2, 4 góc là 4 lầu bát giác. Muốn xuống giếng phải qua một cổng đá đẹp. Sân giếng lát đá, xung quanh sân có các bồn cây toả bóng mát.
Điều kỳ lạ của giếng Ngọc là từ xa xưa chỉ là một giếng đất nhỏ không bao giờ cạn nước. Nước giếng trong vắt, xanh mát quanh năm, uống vào thấy khoan khoái dễ chịu. Nước giếng được dùng làm nước cúng lễ ở chùa trước đây và ngày nay. Bây giờ xây dựng lại, nước lúc nào cũng trong và nhiều, mặc dù đất ở đây cao hơn mặt ruộng. Công trường xây dựng chùa Bái Đính, hàng ngày có trên 400 người lao động đều dùng nước ở giếng Ngọc để sinh hoạt, nấu ăn, tắm giặt và trộn vữa bê tông, khối lượng nước sử dụng bơm lên bể rất nhiều, nhưng nước trong giếng lúc nào cũng đầy, không bao giờ cạn. Người ta gọi là “giếng thần”, “mắt rồng”.
Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam đã cấp bằng “Xác lập kỷ lục”: “Ngôi chùa có giếng lớn nhất Việt Nam”, ngày 12 tháng 12 năm 2007.
Được sự quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ của Chính phủ, Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh Ninh Bình, chùa Bái Đính đã khánh thành giai đoạn I vào ngày 17 tháng 5 năm 2008, được coi là công trình chào mừng Đại lễ Phật đản Liên Hiệp quốc năm 2008 tổ chức tại Việt Nam.
Chùa Bái Đính được chọn là một trong ba địa điểm (chùa Bái Đính, vịnh Hạ Lòng và chùa Yên Tử) để tham quan cho các đoàn khách trong và ngoài nước về tham dự Đại lễ VESAK 2008.
Trong tương lai không xa, chùa Bái Đính sẽ trở thành Khu Văn hoá tâm linh lớn được xác lập nhiều nhất những kỷ lục Việt Nam và khu vực. Những tác phẩm nghệ thuật ấy góp phần làm nên vẻ nguy nga và tôn nghiêm của quần thể tâm linh phật giáo. Nó sẽ là điểm đến rộng lớn hấp dẫn của rất nhiều du khách trong và ngoài nước, trở thành danh lam thắng cảnh nổi tiếng của nước ta. Nó như một cây đại hồ cầm trong dàn nhạc dây, cầm chịch, chi phối tất cả các nhạc cụ khác, là điểm nhấn trong các điểm du lịch ở Ninh Bình. Cùng với Cố đô Hoa Lư lịch sử, nó tích tụ hônf thiêng sông núi ngàn năm của Ninh Bình, của dân tộc Việt Nam.
Lã Đăng Bật
(Nguồn:Thế giới di sản) |